Mắt bình thường
Khi chúng ta nhìn một vật, các tia sáng song song đi từ vật đến mắt sẽ qua các môi trường khúc xạ của mắt và hội tụ ở võng mạc (lớp màng thần kinh của mắt). Từ võng mạc, các tín hiệu thần kinh được truyền lên não, nhờ đó chúng ta thấy được hình ảnh của vật. Trong hệ thống khúc xạ của mắt, 2 thành phần quan trọng nhất là giác mạc và thể thuỷ tinh. Giác mạc là một lớp màng trong suốt ở phần trước nhãn cầu, có công suất chiếm khoảng 2/3 tổng công suất khúc xạ của mắt. Vì vậy, phần lớn các phẫu thuật khúc xạ đều nhằm điều chỉnh hình dạng giác mạc. Thể thuỷ tinh có dạng một thấu kính hội tụ, ngoài vai trò đóng góp cho khúc xạ của mắt, thể thuỷ tinh còn có chức năng điều tiết. Khi thể thuỷ tinh thay đổi hình dạng (vồng hơn hoặc dẹt hơn), công suất khúc xạ sẽ thay đổi, nhờ đó mắt ta nhìn được rõ các vật ở tất cả mọi khoảng cách khác nhau.

Để cho mắt nhìn được rõ chi tiết của vật thì các tia sáng phải hội tụ đúng trên võng mạc. Bất thường ở hệ thống khúc xạ của mắt làm cho các tia sáng không hội tụ ở giác mạc được gọi là các tật khúc xạ. Mắt có tật khúc xạ nhìn vật sẽ bị mờ.


Các tật khúc xạ của mắt
Mắt có tật khúc xạ là mắt mà hệ quang học có độ hội tụ quá mạnh (cận thị), quá yếu (viễn thị) hoặc vừa mạnh vừa yếu (loạn thị) so với chiều dài mắt (trục nhãn cầu), vì thế, các tia sáng song song vào mắt sẽ hội tụ trước hoặc sau võng mạc làm cho ảnh mờ đi và không rõ ràng. Đối với trẻ en tuổi đang đi học, tật khúc xạ có thể làm ảnh hưởng đến sự phát triển của các em trong nhiều lỉnh vực như: sự nhanh nhậy, năng động, giao tiếp xã hội, nhận biết tình thế... Hơn nữa tật khúc xạ có thể dẩn đến những bệnh lý khác như nhược thị, co quắp điều tiết...ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sinh hoạt và làm việc và học tập.
Tật khúc xạ của mắt bao gồm cận thị, viễn thị, và loạn thị. Các tật khúc xạ này được gọi chung là các quang sai bậc thấp. Các quang sai bậc thấp này có thể điều chỉnh bằng kính gọng, kính tiếp xúc, hoặc các phẫu thuật khúc xạ thông thường. Tật khúc xạ được đo bằng đơn vị (D). Số âm dùng cho cận thị (thí dụ -4,50 D), số dương dùng cho viễn thị (thí dụ +2,00 D). Đối với tật loạn thị, ngoài công suất người ta phải ghi cả trục loạn thị (tính bằng độ)


 Cận thị

 Viễn thị
 Loạn thị
Lão thị